Thứ Hai, 9 tháng 7, 2012

Ngày mai chiếu bóng sẽ ra sao? - Vũ Bằng

Ngày mai chiếu bóng sẽ ra sao?
(thay cho lời kết) [1]
Vũ Bằng

            Trong những bài mà các bạn đã đọc ở trên kia, chúng tôi mong rằng các bạn đã tìm thấy một ít cảm tưởng về chiếu bóng. Mục đích của số báo đặc biệt này, trong một phạm vi, mong có thế thôi. Chúng tôi mong rằng một chút ít cảm tưởng kia sẽ làm cho các bạn nghĩ ngợi giây lát và biết đâu sự nghĩ ngợi đó lại chẳng giúp được đôi phần bổ ích cho nền chiếu bóng tương lai vậy?
Ngay tự ở đây, chúng tôi đã thấy các bạn ngạc nhiên trước sự tiến bộ vô cùng của chiếu bóng trong thế giới. Những công dụng của nó về đủ các phương diện đã rõ rệt lắm, một số ít nhà đạo đức, nhà văn hay nhà báo, đứng về mặt đối phương có công kích và mạt sát nó cũng không thể làm cho nó mất cái thế rất vững vàng trong xã hội.
            Chiếu bóng là chúa tể. Cũng như báo chí! Vì vậy cho nên cùng với xây dựng quốc gia, nước văn minh nào trên thế giới cũng nghĩ đến chiếu bóng ngay; có điều nước nào đem chiếu bóng ra thực dụng việc cải tạo trong nước thì lợi ít mà nước nào khôn thì gây được nhiều cái lợi rõ rệt và đầy đủ hơn.
            Trong những nước mà chiếu bóng giúp một tay quan trọng nhất trong sự tiến bộ, ta phải kể trước tiên nước Đức và Nhật là hai nước mạnh nhất ở Âu châu và Á đông.
Hai nước đó để ý khảo sát và cẩn thận từng ly từng tí một trong việc sản xuất phim. Nước Đức chú trọng nhất về những phim ca ngợi lòng thương và tôn thờ sức khoẻ. Nước Nhật để ý nhiều đến những phim giáo dục và phim cổ động.
            Kiểm duyệt bỏ trong một bài đăng trong số báo Craponillot 1937.
            Hiện lúc tôi viết bài này, cuốn báo có giá trị kia không có ở dưới tay tôi, nhưng tôi nhớ rằng những lời xét đoán của nhà dàn cảnh Pháp hiện bây giờ đem ra xét nghiệm, vẫn hãy còn đúng lắm.
            “… Chính thế, người ta đã không để chiếu bóng lên chính cái địa vị của nó; những nhà xuất sản phim chuyên chú về lợi hơn nên họ chỉ rình đánh vào cái thị hiếu của người xem. Họ có biết đâu rằng một cuốn phim chiếu ra nào có phải chỉ trong phạm vi một nước mà thôi, nhưng mà là cả cho thế giới. Đó là cách quảng cáo cho cả một quốc gia, một dân tộc, vậy ta không thể để cái kỹ nghệ ấy ở trong tay một bọn người bất lực…”
            Những lời nói đó, chúng tôi đọc đã bốn năm rồi nhưng tưởng như mới nghe đâu tối hôm qua. Nhà dàn cảnh thiết tha với nghề của mình thay! Nhưng nghề chiếu bóng nước Pháp vẫn cứ đứng một chỗ như thế, cho đến khi chánh phủ Petain lên cầm quyền nước Pháp.
            Phải cải tổ lại nước! Phải cải tổ hết, kể cả chiếu bóng nữa… Những lời nói sắt đá kia làm thức tỉnh bao nhiêu thanh niên, họ bắt đầu có những ý tưởng tươi đẹp hơn, nhất là về môn chiếu bóng thì cái quan niệm họ lại thay đổi hẳn. Họ như biết chiếu bóng không phải là một chỗ để thoả con mắt, để cho con mắt được nhìn những điệu nhẩy khiêu khích, được nghe thấy tiếng hát gợi tình hay được trông thấy những trò mơn trớn của một bà quý phái, thân thì chỉ có một mà nhân nghì nhân ngãi thì dăm bảy người.
            Ông Paul Reboux, một nhà báo có tiếng của Pháp, rập vào cái ý của chánh phủ Pétain vừa đây lên tiếng hô hào trong nước mở những nhà chiếu bóng có trợ cấp để lấy chiếu bóng ra làm việc cho quốc gia. Ý đó thực hay, nhưng ông Galtier Boissière, chủ báo Craponillot và trợ bút đắc lực của báo Canard Enchaîné, không hoan nghênh; ông Boissière này muốn rằng trong nước Pháp sẽ lập thêm một nhà chiếu bóng thôi, nhưng một nhà chiếu bóng tự do (cinéma libre) không do ai kiểm soát hết, làm việc cho quốc gia đã đành rồi; nhưng hoàn toàn độc lập được phụng sự nghệ thuật, không phải khuất phục một mệnh lệnh nào của đảng phái nào hay người nào. Và chúng tôi nghĩ rằng:
            “Nếu bây giờ đây, chúng ta được mong muốn một điều gì về mặt chiếu bóng, thì điều mong muốn trước nhất của ta hẳn phải là một nhà chiếu bóng như nhời ông Boissière đã nói, cạnh những nhà chiếu bóng tổ chức theo ý ông Reboux, vì được như vậy, vừa lợi cho đất nước vừa ích cho nghệ thuật”.
            Vâng, cũng như độc giả, chúng tôi đã biết rằng về mặt chiếu bóng nói đến nước ta là nói đến số “không” (0).
            Những phim: Toufou, Bà Đế, Kim Vân Kiều, Làm rể chẳng qua chỉ là những cuộc thí nghiệm rẻ tiền mà thôi. Những người xuất sản phim đó yêu nước yêu nghề đã đành rồi, nhưng không đi tới một cái gì cả. Họ chán nản và gây cho những người đi sau những sự lo âu, trừ ra mới đây mấy bạn chúng tôi: Văn Lang, Lê Huyên, Nguyễn Dương, v.v. không nản chí, quyết sang Hongkong đóng phim Cánh đồng ma, một truyện phim của Đàm Quang Thiện viết.
            Tôi đã biết hết cả những nỗi khổ tâm, của bọn tài tử An Nam đó từ khi chưa bước chân xuống tàu bể đi tới viễn châu kia. Tôi biết hết những nỗi buồn bực của họ, thiếu thốn của họ, nên tôi chỉ yêu họ mà không trách họ một điều gì. Họ, họ là những người yêu nước, yêu nghề, nên những cái kém cỏi ở trong phim đó, − mà ai lại có thể thành công ngay được tự bước đầu? − những cái kém cỏi trong phim đó, mắt tôi đều không trông thấy: tôi chỉ thấy sáng ngời lên, những quả tim, những khối óc trẻ trung, hoạt động muốn đem cái nước hầu như bị bỏ quên này ra nhắc với Á Đông. Ý đó đã tốt nhưng họ còn một cái ý tốt hơn là đánh thức cái tinh thần chiếu bóng của dân ta dậy, nó đã ngủ liệt sau những phim Bà Đế, Kim Vân Kiều, vân vân.
            Tôi thành thực khen họ và tôi nghĩ rằng: “Việc làm đó của họ, nếu cứ như hiện nay, nghĩa là không có bóng vang gì cả, thì ta cũng nên lấy làm buồn. Những hàng tiền đạo trong một đám quân giơ ngực ra chịu đạn cũng phải mong có một cái gì theo tiếp chứ?
            Công việc của anh em đóng Cánh đồng ma, chúng tôi không mong kết quả nhiều; thực chúng tôi chỉ mong rằng những người hữu tâm đến chiếu bóng sẽ thường thường nghĩ đến họ rồi sẽ làm những cái gì hơn họ.
            Biết đâu do những ý kiến đó, chúng ta sẽ chẳng có một nhà chiếu bóng tự do nói trên kia, và nghề chiếu bóng sẽ chẳng vì đó mà có một địa vị trong xã hội Việt Nam ta vậy?
            Cái điều khó nhất là những tài tử và những bực có địa vị gì trong xã hội sẽ đứng ra lãnh cái trách nhiệm cầm đầu cái nhà chiếu bóng tương lai của chúng ta.
TIÊU LIÊU
Trung Bắc chủ nhật, số đặc biệt về chiếu bóng, 1941

[1] Ý nói bài này mang tính chất bài sơ kết cho số TBCN này, chuyên bàn về chiếu bóng.
Lại Nguyên Ân. Vũ Bằng: Các tác phẩm mới tìm thấy

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Năm 1940 đã hết - Vũ Bằng

Năm 1940 đã hết
Vũ Bằng
Năm 1941
            Thế là đã hết một năm dữ dội. Dữ dội vì nó là một năm 40. Năm 40, trong óc người Âu, vẫn chẳng là một năm tốt đẹp gì, chẳng cứ bây giờ nhưng đã tự lâu năm. Vì thế cho nên “năm 40” đã vào trong thành ngữ Pháp, mỗi khi có chuyện gì bất mãn thì người lại xoa tay mà rằng: Thôi ta cũng coi như năm 40 vậy chứ biết làm sao được”.
            Các bạn đọc báo chắc hãy còn nhớ cách đây mươi năm, báo chí ở Pháp đã riễu năm 40 mấy tháng thường không ngớt. Nguyên vào đầu thế kỷ thứ XI có một đức cha, không nhớ rõ người Pháp, người Anh hay người Đức, một hôm lớn tiếng đồn đại rằng đến năm 1040 thì thế giới sẽ hối kiếp, loài người chết hết không còn lại lấy một người. Bao nhiêu nhà giàu ở Pháp, những chúa tể địa phương, bán cả đất đai nhà cửa để lấy tiền ăn chơi, để ngộ có chết cũng không ân hận. Chẳng ngờ việc ấy lại lầm. Kết quả, những đại gia quý phái bị tai hại, bởi vì năm 1040 thế giới không hối kiếp. Người ta chỉ thấy cái chế độ phong kiến bắt đầu đến hồi tàn cục từ năm ấy mà thôi. Mà cũng từ năm ấy “năm 40” đã thành một năm tai hại: Năm 1140, năm 1240, năm 1340, năm 1440, năm 1540, năm 1640, năm 1740, năm 1840, theo như một bài của báo Hữu thanh thuật lại thì không năm nào lại không có chuyện tai hại xảy ra cho thế giới. Chữ “40” từ đấy thành ra một chữ đáng sợ như con số 13, và người ta thường thấy chữ 40 ở trong thành ngữ Pháp, như trên kia đã nói. Nó gợi cho óc người ta một vẻ riêng. Tuần chay “Carême” dài tới 40 ngày. Bên đạo, lễ giải tội cũng kéo tới 40 ngày. Vào thời trung cổ, những người bị bệnh dịch hạch phải giữ 40 ngày ở nhà thương. Dưới triều vua Saint-Louis, người ta gọi một lệ luật của chế độ phong kiến là “Quarantaine le roi”: trong ngày ấy, một người bị nhục không được phép rửa nhục. Trong tất cả thành ngữ có con số 40, chúng ta đã biết chuyện “40 người ăn trộm và Ali-Baba”, các bạn tất còn nhớ chuyện “40 vị chúa tể đã tạo nên nước Pháp”. Các bạn cũng chưa quên cái “luật bốn mươi giờ”, một cái luật xã hội đã làm đổ mất bao nhiêu mực đã làm hại nước Pháp vô cùng vậy. Con đường “40 xu” nối liền Saint-Germain đến Poissy sở dĩ có cái tên như thế là vì những thợ thuyền làm ở trong quốc gia công xưởng năm 1848 mỗi người được 40 xu một ngày.
            Ở Venise ngày xưa có toà án Bốn mươi người. Tỉnh Sébaste (hiện giờ là Sivas) ở Tiểu Á-tế-á, đã được chứng kiến cái chết của 40 đứng tử vì đạo được Giáo Tông tôn lên làm bốn mươi vị thánh.
            30 và 40 lại là một cách chơi may rủi; 40 lại còn là một lối tính điểm trong cách chơi đánh cầu.
            Khi người ta nói đến “40 vị bất tử” người ta hiểu ngay rằng đó là 40 vị bất tử ở trong toà Hàn lâm Pháp. Fontenelle, mọt vị trong bôn mươi vị đó có câu thơ rằng:
Ba mươi chín, người ta trọng mình,
Bốn mươi, thiên hạ ra tình chê bai…
            Xem thế, ta biết rằng con số 40, đối với người Pháp, không lấy gì làm tốt đẹp. Người ta đoán rằng chữ 40 sẽ không tốt đẹp mãi cho đến năm 2040. Ấy thế mà ta vừa mới trải qua một năm mà hai số cuối cùng là con số 40. Không phải tin dị đoan chúng ta cũng đã thấy đó là một năm không ra gì. Nạn chiến tranh thảm mục đã gây nên. [………..][1] Người chết không biết bao nhiêu mà kể. Sự thất vọng đã hoàn toàn. Tôi không chịu rằng lời nói của ông cố đạo ở thế kỷ XI nói rằng năm 40 thế giới hối kiếp, nhưng quả năm 1940 vừa rồi, người ta quả đã sống một giấc mơ dữ dội “có mùi đất, có mùi đất thó và có mùi số mệnh!”
            Đầu năm 1940, ông Hàn François Mauriac [2] đã viết rằng: “Năm nay, mùa xuân đến hơi sớm quá. Tôi không thích thế, bởi vì có những mùa xuân đem sự chết chóc đến cho cõi đời”.
            Năm 1940 đã hết. Chúng ta bắt đầu năm 1941. Không hiểu mùa xuân năm nay có đến sớm quá hay không, nhưng chúng ta biết chắc rằng sự Tái Tạo năm nay mang cho ta sự Hồi Sinh chứ không phải sự chết chóc, bởi vì chúng ta đã ở trong cảnh gớm ghê ấy rồi. Ta có thể tin cậy được ở số mệnh mà bước vào một năm mới tốt đẹp và chứa chan hy vọng.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 44 (5/1/1941)

[1] chỗ này báo gốc để trắng 1 dòng.
[2] François Mauriac (1885-1970) nhà văn Pháp, thành viên Hàn lâm viện Pháp, giải Nobel 1952.
Lại Nguyên Ân. Vũ Bằng: Các tác phẩm mới tìm thấy

Thời kỳ thứ nhất - Vũ Bằng

Thời kỳ thứ nhất
Việt Nam lấy ba tỉnh ở Chân Lạp
Vũ Bằng

            Cứ theo sử ta và sử Tàu, từ quãng thế kỷ thứ VI và thứ VII trở về trước, cả miền tây nam sông Cửu Long (Mékong) đề gọi là đất Phù Nam.
            Vào cuối thế kỷ thứ VII, đất Phù Nam chia ra làm hai: nửa về tây bắc thì người Thái từ miền đông bắc Ấn Độ và miền tây nam nước Tàu tràn xuống ở, gọi là nước Xích Thổ; nửa về đông nam thì người Phù Nam ở, gọi là nước Chân Lập tức là xứ Cao Miên ngày nay.
            Vào quãng thế kỷ thứ XI và XII, nước Xích Thổ lại chia ra làm hai nửa, một nước gọi là La Đấu, một nước gọi là nước Tiêm. Vào thế kỷ thứ XIII và XIV, sử Tàu có chép hai nước ấy sang cống nhà Nguyên. Về sau nước La Đấu gồm cả nước Tiêm, mới gọi là nước Tiêm La Đấu. Đến cuối thế kỷ thứ XIV, vua nước Tiêm La Đấu sang cầu phong nhà Minh bên Tàu, vua Thái tổ nhà Minh mới phong là nước Tiêm La, tức Xiêm La, hay Thái Lan bây giờ vậy.
            Tiêm La lúc đầu còn yếu, thường bị nước Chân Lập áp chế. Sau cường thịnh dần dần lên, rồi vào khoảng năm Vạn Lịch nhà Minh (1573-1620), nước Tiêm La lại đánh lại nước Chân Lập, bắt được hoàng thân Chân Lập là Srey-Sauryopor đem về nước. Srey-Sauryopor về sau lại phục hưng lại Chân Lập, dời đô về đóng ở Lovéa-Êm, ngay chỗ Phnom-Penh bây giờ (1604).
Năm 1618, vua Chân Lập Srey-Sauryopor truyền ngôi cho con là Chey-Chetta II và đến năm sau thì mất.
            Chey-Chetta II năm 1620 dời đô về đóng ở Oudong và hỏi con gái Nguyễn Sãi vương về làm hoàng hậu. Chân Lập được ta bắt đầu biết đến tới được từ đó.
            Trong khi ấy, vua Tiêm La là Phra Naroi dòng dõi nhà Ayouthia dùng một người Hy Lạp tên là Constantin Fauthon làm tướng. Người ấy xui vua Tiêm La giao thiệp với nước Pháp. Bởi vậy năm 1656 mới có bọn sứ thần Tiêm La sang bái yết Pháp hoàng Louis XIV ở điện Versailles.
            Năm 1623, người Tiêm La lại sang đánh Chân Lập. Vua Chân Lập sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn giúp cho quân tướng, phá được Tiêm La. Nhân việc đó, chúa Sãi thấy nước ta thường hay mất mùa, dân tình đói khổ, vả lại đương vào lúc đánh nhau với chúa Trịnh ở Bắc, nên yêu cầu vua Chân Lập Chey-Chetta II là con rể cho phép người Nam được vào khai khẩn làm ruộng ở Mộ Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên Hoà).
            Người Nam ta sang ở Chân Lập bắt đầu từ đó, và cũng từ đó bắt đâu cuộc tranh nhau đất Chân Lập giữa ta và Tiêm La:
Nhà bè nước chảy chia hai,
Ai vào Gia Định, Đồng Nai thì vào
            Đó là câu hát của người Nam ta rủ nhau vào khai khẩn đất Chân Lập.
            Năm 1628 vua Chân Lập Chey-Chetta II băng hà, hoàng đệ Préah Outey lên cầm quyền giám quốc, đến năm 1629 thì trả ngôi lại cho Thái tử. Thái tử Chân Lập lên ngôi tức là vua Ponhéa-Saur. Năm 1630 vua Ponhéa-Saur tranh nhau một mỹ nữ với hoàng thúc là Préah-Outey rồi bị giết chết ở Kanchor. Em Ponhéa-Saur là Ponhéa-Âng-Tong lên nối ngôi anh từ năm 1630 đến năm 1640 thì mất. Triều đình Chân Lập tôn một người con hoàng thúc Préah-Outey lên nối ngôi, tức là Préah-Âng-Non I (1641). Con tiên vương Ponhéa-Âng-Tong là Ponhéa-Chan (Nặc Ông Chân) nổi loạn, bắt được Préah-Âng-Non I, và lên làm vua từ năm 1642 đến năm 1659.
Ponhéa-Chan (Nặc Ông Chân) vốn tính đã tàn bạo, lại tuyển hoàng hậu là người Mã Lai, nên lòng dân không phục.
            Những hoàng đệ của Préah-Non liền lợi dụng cơ hội mà nổi loạn để báo thù cho anh, nhưng bị thất bại, phải cầu cứu với thái hậu Chey-Chetta II là công chúa Nguyễn Sãi vương. Thái hậu khuyên bọn hoàng đệ sang cầu viện chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn bấy giờ là Nguyễn Hiền vương, được lời của chị, năm 1658, sai quan đem 3000 quân sang đánh ở Mỗi Xuý (Biên Hoà) bắt được Ponhéa-Chan (Nặc Ông Chân) về giam ở Quảng Bình mất mấy tháng, về sau tha cho về nước, bắt phải triều cống và bênh vực người An Nam sang làm ăn ở bên ấy.
Ponhéa-Chan (Nặc Ông Chân) về đến nước thì chết (1659). Em vua Préah-Âng-Non II lên thay tức là vua Préah-Sô, trị vì từ năm 1659 đến năm 1672.
            Năm 1672, Thái tử vua Préah-Âng-Non I nổi lên cướp lại được ngôi của chú vua, tức là vua Chey-Chetta III. Sang năm 1673, Chey-Chetta III bị người ám sát. Triều đình tôn một người con vua Préah-Sô lên nối ngôi tức là vua Âng Chey (1673). Nhưng một người con thứ hai của vua Préah-Âng-Non I sang cầu viện được quân ta, về bắt Âng-Chey giết đi mà lên làm vua, gọi là Âng-Non II, đóng đô ở Oudong (1674). Con Âng-Chey chạy sang cầu cứu nước Tiêm La, đuổi được Âng-Non II đi, lên làm vua, là Chey-Chetta IV (Nặc Ông Đài).
            Âng-Non II lại sang dinh Thái Khang (Khánh Hoà) cầu cứu với chúa. Nguyễn Hiền vương bèn sai quan Cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng với tham mưu là Nguyễn Đình Thái chia quân làm hai đạo kéo sang đánh Chey-Chetta IV, phá được đồn Sài Gòn và kéo quân lên vây thành Phnom-Penh (Nam Vang). Chey-Chetta IV phải ra hàng.(1) Chúa Nguyễn bèn chia cho Âng-Non II làm vua ở Sài Gòn và Chey Chetta IV làm vua ở Oudong (Long Úc), bắt cả hai vua mỗi năm phải triều cống.
            Năm 1679, các quan nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình, không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3000 quân cùng 50 chiếc thuyền sang xin làm dân An Nam. Chúa Hiền muốn khai khẩn đất Chân Lập bèn cho vào ở đất Đông Phố (Gia Định). Bọn Ngạn Địch chia ra ở đất Lộc Dã (Đồng Nai và Biên Hoà), ở Mỹ Tho (Định Tường), ở Ban Lân (Biên Hoà), khai khẩn làm ruộng, lập ra phường phố.
            Lúc ấy là lúc nhà Nguyễn đã lấy hết đất Chiêm Thành, bắt đầu lần sang đất Chân Lập. Nước Tiêm La có ý muốn ngăn trở để giữ lấy đất Chân Lập làm của mình, nhưng thấy chúa Nguyễn mạnh hơn đành phải nhượng cho chúa Nguyễn bảo hộ đất Chân Lập. Tuy vậy, nước Tiêm La thường hay dung những người phản đối với vua Chân Lập, giúp cho binh lực để về làm loạn.
            Từ năm 1674, nước Chân Lập chia ra làm hai phái: Âng-Non II được chúa Nguyễn giúp và Chey-Chetta IV được nước Tiêm La giúp.
            Năm 1682, Âng-Non II kéo quân lên đánh Chey-Chetta IV song bị thua, vì Chey-Chetta IV có Tiêm La giúp. Năm 1684, Âng-Non II lại kết liên với cả Tiêm La để đánh Chey-Chetta IV, nhưng lại bị thua, phải chạy về Srey-Santhor. Năm 1688, Âng-Non II lại bị Chey-Chetta IV đánh thua phải trốn về Sài Gòn.
            Tuy hai vua Chân Lập vẫn đánh nhau, những vẫn phải thần phục nhà Nguyễn.
            Năm 1688, những người Khách ở Mỹ Tho nổi lên, Hoàng Tiến giết Ngạn Địch, đem quân đóng đồn ở Nan Khê. Vua Chân Lập Chey-Chetta IV thấy vậy có ý không chịu thần phục nhà Nguyễn nữa. Chúa Nguyễn bấy giờ là Nguyễn Phúc Trăn sai quân dùng mưu giết được Hoàng Tiến. Chey-Chetta IV lại phải thần phục như cũ (1690).
            Năm 1691, Âng-Non II băng hà, cả Chân Lập lại thuộc quyền Chey-Chetta IV. Năm 1692, chúa Nguyễn đem 5000 dân Chiêm Thành cho vào ở Loréa. Đến năm 1695, Chey-Chetta IV truyền ngôi cho cháu gọi bằng chú là Ponhéa-Yâng tức là Ponhéa-Outey Ier .
            Năm 1699, một viên quan Chân Lập là Êm nổi lên làm lạon, được quân ta giúp đuổi được quốc vương Ponhéa-Outey Ier đến Kompong-Chnang. Nhưng về sau vì thiếu lương thực, quân ta và Êm bị thua. Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu tức giận liền sai ông Nguyễn Hữu Kính làm Kinh lược Chân Lập, chia đất Đông Phố ra làm dinh làm huyện, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long và xứ Sài Gòn làm huyện Tân bình. Lại đặt Trấn Biên đình (Biên Hoà) và Phiên Trấn đình (Gia Định) sai quan cai trị. Những người Tàu ở đất Trấn Biên thì lập làm xã Thanh Hà, những người Tàu ở đất Phiên Trấn thì lập làm xã Minh Hương.
            Nhân việc lôi thôi với nước ta đó, vua Chân Lập Chey-Chetta IV lại về lên ngôi và công nhận sự đô hộ của chúa Nguyễn (1699).
            Nước Tiêm La bấy giờ còn yếu thế đành phải lặng im.
            Làn thứ nhất nước ta thành công trong công cuộc thôn tính nước Chân Lạp.[2]
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 42 (22/12/1940)

(1) Sử ta chép Chey-Chetta bỏ thành chạy vào trong rừng, nhưng theo sử Chân Lập thì Chey-Chetta vẫn sống và còn lên ngôi mấy lầm nữa (nguyên chú).
[2] TBCN số 42 này, với trang bìa in ảnh một thiếu nữ Thái Lan, như là số chuyên về đất nước này, có đề cập đôi sự việc liên quan lẫn nhau thuộc lịch sử hai nước. Bài này của Vũ Bằng nằm trong loạt 3 bài được toà soạn chia nhau viết; sau bài này (tr. 14-15) là các bài: Thời kỳ thứ hai, sáu tỉnh Chân Lạp vào tay nước ta, sự thành lập của Nam Kỳ (tr. 16-17) do Tùng Hiệp viết; Thời kỳ thứ ba, đánh bại Thái Lan để giữ vững quyền đô hộ ở Chân Lạp (tr. 18-20) do Văn Thu viết.
Lại Nguyên Ân. Vũ Bằng: Các tác phẩm mới tìm thấy

Vụ đi thề ở đền Bạch Mã - Vũ Bằng

Vụ đi thề ở đền Bạch Mã
Vũ Bằng
Sáng 2 Décembre 1940
            Trước một con gà bị cắt cổ nằm rẫy chết trên sàn gạch, M. Kim Sơn quỳ ở “nhà tế” đền Bạch Mã thề rằng: “Nếu tôi nói dối, tôi xin chết!”
            … Mà thề như thế chỉ vì một sự lầm lẫn nhỏ ở trong sự buôn bán giữa M. M.[1] Đỗ Văn Tấn tức Quảng Thành ở 89 phố Hàng Bồ và Nguyễn Văn Kim tức Kim Sơn ở 14 phố Hàng Ngang Hà Nội.
            Ông Kim Sơn nói rằng: Tôi với ông Đỗ Văn Tấn vốn là anh em bạn. Năm ngoái, ông hỏi mua của tôi mấy cái tủ. Giá cả là 298p32. Hàng, ông nhận rằng sẽ mua ở Hàng Ngang. Tôi có đủ giấy má như thế. Tự nhiên đánh đùng một cái ông kiện tôi vì ông không thuê được cái nhà của ông Đốc Ngọc ở 53 Hàng Đường. Cái nhà này, tôi cũng thuê của người ta. Người ta cho ai thuê tuỳ ý, tôi có quyền gì vào đấy?
Đó là tiếng chuông thứ nhất.
*
Tiếng thứ hai
            “Cái chuông thứ hai” cũng đứng ở cạnh tôi và lên tiếng:
            - Thế sao không nói thế ngay lúc đầu? Anh dở lắm. Anh có hứa với tôi thuê hộ cái nhà, - nghĩa là 298p32 ấy là kể cả tiền tủ và tiền mua lại hợp đồng thuê cái nhà đó,- thì tôi mới thuê, chứ 298p32 có mấy cái tủ mọt thì hoạ có là thằng điên. Nói gần nói xa, chẳng qua nói thật: tôi cả tin bạn quá. Nếu quả là người thường thì giấy tờ cẩn thận, đâu có phải dắt nhau đi thề như hôm nay.
*
Hôm nay
            Từ tám giờ sáng, đền Bạch Mã đã đông người đến lắm. Người ta đến xem hai người thanh niên mới (ấy, cứ nói thế, bởi vì hai ông cùng trẻ và cùng mặc quần áo tây) đem nhau thề trước cửa thánh.
            Cửa thánh uy nghiêm lắm. Từ sáng sớm, người ta đã thắp nhang nghi ngút và đốt đèn ở ban thờ. Phía trong, một bóng tối bao phủ và gây một vẻ thần linh bí mật. Cửa đền mở rộng. Người ta thấy ở chính giữa một cái hoành phi lớn “Bạch Mã tối linh từ” và hai bên hai biển nhỏ đề mỗi bên bốn chữ “Vĩnh tạ an khang”. Ở lối đi ra đi vào, hai câu đối đề 10 chữ: “Thiên nam thượng đẳng thần; Long đỗ nhất vọng tự”. Sáng hôm nay hình như rõ chữ hơn lên. Cũng vậy, cờ, biển, trống chiêng, rùa, hạc hình như cũng được lau chùi cẩn thận hơn một chút.
*
Giờ H
            Giờ H, giờ quan trọng, là tám giờ rưỡi. Tám rưỡi, đền chật ních. Người ta nghe thấy ở đền trong có người đàn bà nói ra:
            - Tôi thì đến 2000 bạc, tôi cũng không đi thề.
            Ồn ào… Một người lại nói:
            - Thề, chứ sợ gì? Tôi đã được xem bản biên lời thề rồi. Không có gì là chặt chẽ hết; vu vơ lắm. Thề như thế thì chẳng làm sao cả, tôi thề đến mười lần như thế mà cũng không sợ gì!
            - Nói gì lôi thôi. Tôi thề như thế từ thuở nhỏ mà có khi thề độc hơn nữa mà cũng chẳng làm sao hết. Chứng cớ là tôi vẫn sống nhăn ra đây này. Huống chi lại thề như lời thề hôm nay.
*
Lời thề
            Vậy thì ta xem lời thề hôm nay ra thế nào.
            Một bọn năm sáu ông già đạo mạo,- cụ dân - đương nhúng… râu vào việc ở một cái bàn kê cạnh đấy.
            Các cụ hút thuốc lào, uống nước và chờ chứng kiến cuộc thề với ông lý trưởng đương thứ vậy.
            Họ cho M. Kim Sơn xem trước lời phải thề.
            Lời M. Kim Sơn phải thề như thế này:
            “Hà Nội, ngày hôm nay là mùng bốn tháng một năm Canh Thìn tức là mùng 2 tháng Chạp Tây năm 1940, tôi là Nguyễn Văn Kim tức Kim Sơn. Tôi xin thề rằng:
            Hôm 7 tháng 6 năm 1939 tôi bán những tủ kính và hàng hoá cho Đỗ Văn Tấn tức Quảng Thành giá 298p32 là chỉ bán những thứ ấy thôi, chứ không phải là nhượng quyền cho Đỗ Văn Tấn tức Quảng Thành thuê cái nhà 53 Hàng Đường mà tôi dùng để buôn bán. Tôi mà nói dối, tôi xin chết!”
*
Con gà, cái chén, cái bát và con dao phay
            Ở nhà tế trong đền, giữa những cờ quạt và biển lọng uy nghi, một cái vòng tròn bằng cái nong kẻ vôi trắng đã vạch sẵn để đợi người bước vào thề.
            Trên ban thờ, một cái tách con. Dưới, một con gà sống bây giờ có lẽ bán đến đồng bạc, đã bị buộc sẵn ở đấy dãy dụa và đưa đôi mắt lờ đờ nhìn một cái bát úp xuống gạch và một con dao phay sắc bén. Mọi người chen nhau nhòm vào.
            Tiếng lào xào bỗng im bặt; tiếng trống tiếng chiêng vang động và người ta thấy khác ở trong người: đền Bạch Mã trở nên uy nghiêm lạ.
            Ông lý đương thứ mặc áo thụng xanh, lấy tay che râu và che kính quỳ xuống một cái bục ở đền trong, suỵt một tràng rồi khấn:
            “… Lạy thánh vạn bái, có hai tên Đỗ Văn Tấn và Nguyễn Văn Kim…”
*
Máu kêu
            Cuộc thề bắt đầu. Ông từ đền vớ lấy con gà và cầm dao cắt tiết. Máu phun ra. Người ta lấy chiếc chén nhớn hứng lấy. Chỗ máu thừa bắn tung toé trên sàn gạch và… kêu lên!
            Thấy máu, tâm hồn người ta đổi khác.
            Tôi thấy rợn tóc gáy lên.
            Máu kêu?
            Chứ không ư? Máu nói cho người ta nhiều chuyện lắm. Ở đây, tiếng kêu đó là tiếng con gà, hết máu, kêu chết vậy.
            Nó dãy. Mắt nó trừng trừng lên. Nó chết.
            Trước cái chết ấy, M. Kim Sơn quỳ xuống giữa cái vong vôi, cầm cái giấy chép lời thề: “Nếu tôi nói dối, tôi xin chết” và đọc lên. Đọc lên khe khẽ… Một người kêu.
            - Chẳng nghe thấy tiếng gì cả.
            Biết họ thề ra thế nào?
            Một người khác trả lời:
            - Mà sao ông Đỗ Văn Tấn không phải thề? Ông ta bắt M. Kim Sơn thề vì ông cho là M. Kim Sơn gian giảo, thế nhưng ngộ chính ông ta nói vu cho người ta thì sao?
            Mọi vụ thề khác, - thường thường hai bên cùng thề.
*
Cái bát vỡ
            Người ta chờ đợi xem thề trong hai tiếng đồng hồ, M. Kim đến lúc vào thề, chỉ một phút là xong.
            M. Kim nhấp một tí máu.
            Trong khi mọi người ngơ ngác chờ đợi một cái gì khác lạ thì nghe thấy đánh choang một cái.
            Con dao mới đánh, ông Kim cầm chém đánh chát vào cái bát úp trên sàn gạch.
            Thế là hết!
*
Ra về
            … Và mọi người kéo nhau ra về. Mặt M. Kim hơi tái. Tay ông run run nhưng ông cười. Ông cười vì ông đã được kiện ở trước pháp luật chăng? M. Tấn có vẻ không được bằng lòng. Ông không bằng lòng về chuyện gì? - Không bằng lòng vì có một người anh em nhiễu sự? - Không bằng lòng vì ông tốn về việc thề này tới 100 đồng? - Không ai biết rõ cả. Người ta chỉ biết rằng hai ông ấy đều là người tử tế. Họ đi song song nhau ra ngoài.
            - Chào ngài!
            - Chào ngài!
            Riêng mắt tôi trông, thì cả hai ông Kim Sơn và Quảng Thành đều có vẻ thành thực cả.
*
Chán lắm, đời ạ!
            Hai ông cùng trẻ, hai ông cùng đẹp cả. Thế mà tự nhiên một ông bắt ông kia phải đi thề… sẽ chết. Thế mà tự nhiên một ông nói rằng mình sẽ chết nếu mình nói dối! Thế có chán đời không? Chao ôi, đời nào có vui gì! Sống với nhau, khổ lắm hay sao mà lại muốn cho nhau chết? Tôi, cũng như các bạn ở trong số báo này, không tin rằng người ta có thể chết vì một lời thề được. Nhưng quả, sáng nay, xem việc hai ông Kim Sơn và Quảng Thành, tôi thấy rợn tóc gáy và buồn mang mang trong lòng.
            Cái đời này, thực thế, nếu không biết thương yêu nhau một chút, trái lại, lại cứ rình ghét nhau và lừa nhau thì chẳng nên vui thú gì. Như thế, chết lại hơn. Mà nói đến chết thì, tuy không tin lời thề có thể chết được người, tôi cũng cứ xin kể một chuyện này mà tôi được biết hồi tôi còn bé.
            Hai người đàn bà buôn gạo với nhau ở chợ Hôm. Một người bảo trả tiền rồi. Một người bảo chưa. Hai người ấy đem nhau xuống miếu H. C. và cùng thề. Không có nghi lễ gì cả. Họ cầm con dao bổ xuống gạch và thề nếu ai nói dối thì sẽ chết như thế này như thế nọ… Nửa tháng sau, một người chết gần đúng như lời thề ấy… Và một người nữa, một tháng sau cũng chết theo người đã cùng mình đi thề ở miếu H.C.
*
Cẩn thận!
            Những ông khó tính xin chớ vội kết án người thuật chuyện trên kia. Tôi đã nói tôi không tin rằng người ta có thể chết vì lời thề được. Nhưng tôi cứ đem câu chuyện này ra kể để bạn đọc cùng nghĩ ngợi xem câu chuyện thề này ra thế nào.
            Câu chuyện thề không bịa đặt một tý nào đâu. Tôi được biết rõ lắm. Không tin tôi xin thề: “Nếu tôi nói sai một chút gì thì ông cầm cờ xanh, ông cầm cờ đỏ, hỏi cho tới ngõ, hỏi rõ tới cái tên này mà bắt nó đi!” [2]
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 40 (8/12/1940)

 [1] Do chịu ảnh hưởng cách trình bày của báo chí chữ Pháp, báo chí tíếng Việt trước 1945 ở Việt Nam cũng thường dùng chữ cái M. (viết tắt của từmonsieur = ngài) đặt trước tên riêng, hoặc dùng 2 chữ cái M liền nhau (M. M. = các ngài) khi kể tên từ 2 người trở lên.
[2] Bài này đăng ở một số TBCN gần như chuyên đề, nói về “lời thề”. Ở các trang đăng bài này có in kèm một số ảnh do Võ An Ninh chụp, có ghi chú mô tả. Ảnh 1: Trước đền Bạch Mã. Thiên hạ kéo đến xem ông Kim Sơn và ông Quảng Thành thề ở trước sân đền Bạch Mã. Ảnh 2: Hai vai chính trong vụ thề. Bên trái là ông Kim Sơn bị ép đi thề, bên phải là ông Quảng Thành, người đòi đi thề. Ảnh 3: Kết quả của vụ thề: một con gà bị chết. Người thề chẳng thấy chết đâu! Ai gian ai ngay chưa biết, chỉ biết một con gà vô tội bị chết quay trên sàn gạch.
Lại Nguyên Ân. Vũ Bằng: Các tác phẩm mới tìm thấy

Geisha - Vũ Bằng

Geisha
Vũ Bằng

            Yoshiwara, một “hoa thành” của Phù tang Tam đảo bị thiêu sạch và vứt 10 vạn Geisha ra cuộc đời
           
            Các bạn đọc báo, kỳ trước đọc bài tường thuật hai buổi diễn kịch của gánh Umejima Gekidan ở nhà hát tây Hà Nội tất hãy còn nhớ rằng ở giữa hai vở Zembu Selshin Ijoari và vở Yamato Damashii, ban tài tử Nhật có trưng một cuộc “múa quạt” rất đẹp do một người đàn ông ăn mặc giả làm thiếu nữ Nhật múa theo tiếng đàn samishen. Người Nhật ấy đã làm cho nhiều người lính Nhật đi xem hôm ấy chú ý: chú ý vì thân hình, vì điệu múa “như cành bách cành tùng” đã đành rồi; nhưng sự thực, họ chú ý một phần là vì người ta nhớ tới một hạng thiếu nữ múa quạt ở Nhật, các cô geisha, một hạng đàn bà kiều diễm tài hoa, đã tô điểm cho nước Nhật và làm cho thế giới ưa đến thăm nước ấy.
            Thực vậy, người ta có thể bảo rằng những người đàn bà này gần như là một thứ tinh hoa của Phù tang. Cho nên một người đàn ông Nhật bị đầy ải đến nơi quan tái hay là bỏ cửa bỏ nhà mà đi lập nghiệp ở dưới những phương trời lạ, - theo lời của một danh sĩ biết nhiều về Nhật bản Paul Louis Couchoud - thì người đàn ông Nhật nhớ họ như là hình ảnh của quê hương vậy.
Sự thực, từ xưa đến nay rất nhiều người đến chơi đất Phù tang đã hiểu lầm bọn người này cũng như từ xưa đến nay nhiều người đã không thận trọng những danh từ trong khi du lịch. Người ta có cái ý muốn gán cho những chữ những tiếng một cái ý phong tình, đại khái như những chữ sérail và harem chẳng hạn. Chính thực chữ sérail chỉ có nghĩa là lâu đài và harem chỉ có nghĩa là nhà (ở chữ Anh home mà ra) như hiện giờ người ta nói tới hai chữ ấy thì đều hiểu theo một nghĩa không đứng đắn.
            Cũng vậy, người ta bây giờ mỗi khi nói tới chữ Nhật geisha thì đều có cảm giác rằng geisha là bọn gái phong tình của đất Phù tang, nhưng sự thực geisha cũng như mousmé ở Nhật đều là hạng người mà tính hạnh không có gì đáng làm cho ta sợ cả. Mousmé, ở nước Nhật, chỉ có cái nghĩa là người con gái ở trong gia đình, người chị cả; còn như geisha thì là… đó, chính ở đó ta cần phải nói cho rõ ràng đôi chút.
            Geisha là hạng thiếu nữ sa cơ, làm nghề lấy nhan sắc ra tô điểm cho đất nước. Hạng người này, như trên kia, tôi đã nói, thực là cái tính hoa của Phù tang cũng như những nhà võ sĩ là danh dự của Phù tang vậy.
            Những dây lưng đẹp, những gấm vóc lụa là hào nháng, những đồ nữ trang thay đổi kiểu luôn luôn chế hoá ra là để bọn này dùng; họ có thể đem ví với những ngôi sao (in partibus), những ngôi sao không bao giờ lên sân khấu để diễn kịch cả mà cũng chẳng đóng trò chiếu bóng, nhưng mà là những ngôi sao để cho vương tôn công tử bỏ tiền ra mời về nhà thưởng thức cái đẹp, cái tài, cái khéo và cũng là để chuốc lấy sự khổ não cho thân mình, bởi vì những geisha uốn éo, nũng nịu và thích làm khổ lòng người ta lắm. Tuy vậy, ta đừng vội tưởng những cô geisha này là một hạng lầu xanh hay là những con “gà mái lịch sự” của ta đâu: họ du dương tình tứ, họ có những điệu bộ khêu tình thực, nhưng… nhưng họ không phải là những hạng người bán cái dâm đi nuôi mình.
            Khởi thuỷ, những cô geisha chính là những con đồng cái bán ở phái thần đạo; họ đứng làm tiêu biểu cho cái chủ nghĩa khoái lạc là cái luân lý của nước Nhật khi xưa vậy.
Vào thời ấy, những nhà quý phái ở nước Nhật không biết làm gì cả, ngoài hai bữa cơm ra; họ đọc phú ngâm thơ mãi cũng buồn nên thường thường vẫn hội họp nhau ở những nhà như nhà cô đầu bây giờ để đề trăng vịnh gió, ngắm tuyết trong mây và, cũng như lớp người cũ ở nước ta, họ phí thời giờ vào những việc không ra đâu cả.
            Một vài “cái phòng trà” bắt đầu mở: những người chủ phòng trà, muốn cho những ông thi sĩ, văn sĩ một mùa kia có bạn, bèn mộ dăm ba ả đến để mài mực, rót rượu hay ngâm ngợi dăm ba câu thơ cho đỡ buồn.
            Nếu người ta cần phải đem các cô geisha ra ví dụ với một hạng người nào ở nước ta, tôi xin ví họ với bọn cô đầu hát cũ, cái bọn người ở sau mành mành hát ra để quan khách nghe chơi, cái bọn người cùng lớp với vai chính ở trong truyện “Thề non nước” của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu vậy.
            Những cô geishas Nhật Bản khởi nguyên cũng thế. Họ là những con nhà gia thế cả nhưng vì chẳng may gặp bước sa cơ thất thế nên phải tạm dấn mình vào một chỗ dập dìu xa mã công khanh. Tôi đã đọc một vở kịch Nhật mà trong đó người ta thuật chuyện một người đàn bà Nhật đã có chồng, nhưng vì chồng cần tiền để hội họp anh em lại trả thù cho chủ cũ, người đàn bà ấy không ngần ngại gì cả, đã tự bán mình lấy 100 đồng tiền vàng và đến ở một cái phòng trà trong ba năm.
            Quả vậy, những người đàn bà dấn thân đi như thế không phải cứ để ở suốt đời như thế! Họ có giao ước với mụ chủ phòng trà sẽ ở trong một thời hạn là bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm; ngoài cái thời gian ấy ra, họ sẽ có tự do của họ, mà trong khi ở đó, không có thể có một thế lực gì bắt họ phải theo ý muốn người khác được.
            Ở những phòng trà ấy, người geisha được hưởng một thứ giáo dục hoàn toàn: họ thêu thùa may vá, học cách cắm hoa (ikebana) và học cả chữ nữa, để mỗi khi có khách thì có thể xướng hoạ được với họ, hoặc nếu không thế thì ít ra cũng phải biết ngâm vài bài thơ để làm vui lòng khách những lúc trà dư tửu hậu.
            Mỗi nhà có riêng một người đàn bà đứng tuổi chỉ ròng dạy bọn này: họ dạy bọn geishas những bài thơ của các danh sĩ mà chúng tôi tạm dịch nghĩa một vài bài ra đây:
Một con chuồn chuồn
Định đậu lên trên
Một ngọn cỏ
Nhưng không được.
*
Dù mi đã đậu rồi,
Đôi cánh mi còn vẫy,
Bướm ơi!
*
Một đàn ngỗng giời
Ở đỉnh núi bay đi
Dưới ánh giăng thanh.
*
Một cánh hoa rơi
Và lại bay lên cành.
À! ra con bướm…
            Những bài thơ ấy đại khái như vậy cả, (người Nhật gọi là hai-kai) phần nhiều mỗi câu chỉ có một hai chữ vớ vẩn thế thôi, nhưng bài nào cũng nhẹ như bướm cả. Bọn geisha người đã nhẹ lại ngâm những bài thơ nhẹ như thế, tưởng đã thần tiên lắm lắm rồi, không ngờ người Nhật vẫn cho thế là chưa đủ nên lại còn tập cho bọn geisha biết nhảy múa nhẹ nhàng cũng như dáng điệu của họ và thơ của họ ngâm nga vậy.
            Về những lối múa này, như trong bài “Nghệ thuật hát bội của Phù tang Tam đảo” mà tôi đã viết trong số trước, lối nào cũng dùng đến cây quạt cả. Mỗi bước đi một điệu, mỗi sự uốn éo lòng là để “trả lời” một tư tưởng, hay một vẻ riêng của nghệ thuật nhưng đặc biệt và được geisha Phù tang Tam đảo ưa nhất và lấy làm khó nhất có chăng là lối múa cây tùng cây bách (Matsu Odori). Hai tay người geisha múa như lá tùng lá bách rơi ở chung quanh bộ xiêm phục lẹ làng như gió xuân.
            Xem như vậy thì ta có thể bảo bọn geisha chính là một hạng nghệ sĩ của đất Phù tang, mà sở dĩ bọn người này được thế, chính là vì ở Nhật, sau cái phong trào xu hướng về khoái lạc, phong trào Khổng giáo kế tiếp luôn và đưa người ta đến chỗ tận thiện tận mỹ của đạo đức và nghệ thuật.
            Hiện nay, phong trào Phật giáo có lẽ không rộng được bằng khi xưa nữa, nhưng Nho giáo lại gây cho óc người Nhật sự cương cường, làm cho cả đàn ông lẫn đàn bà đều biết trọng nhân cách vậy. Vì thuở nhỏ, người ta đã dạy cho con trai cũng như con gái cái “nghệ thuật giữ mình” nghĩa là giữ từ cách đi đứng cho đến cách kiềm chế lòng dục lại làm cho mình tự chủ mình.
Những cô geishas, vì vậy, lúc mới bước vào đời đã học được cách cầm nước mắt, biết giữ để không tức giận, không sợ hãi.
            Paul Louis Couchoud kể chuyện rằng chính mắt ông, hồi bắt đầu cuộc chiến tranh Nga - Nhật, ông đã được mục kích có tới hơn hai mươi bận những quân lính Phù tang từ biệt đất nước để ra nơi trận địa. Bao giờ cũng vẫn một lối nghi tiết ấy: những cô geishas - phần nhiều có chồng hay nhân tình ở trong số quân lính đó - ăn bận thật diêm dúa: áo lụa sa tanh mỏng thêu hoa sặc sỡ như một công viên Nhật; dây lưng (obi) vàng lấp lánh một thứ lụa thiên thanh, hội họp nhau ở các nhà ga nhỏ để dưng chén trà cuối cùng cho quân lính: các cô geishas đi vào các hàng quân, đầu cúi, nụ cười không lúc nào quên nở trên môi cả. Họ không hôn nhau mà cũng chẳng ôm lấy nhau như ở các đô thị lớn trên thế giới; họ cúi rạp xuống chào “những kẻ sắp đi” và cười, không một giọt nước mắt hay một câu than vãn. Không phải là họ không đau đớn ở trong lòng đâu: các cô geishas cố cầm nước mắt đấy, theo như một câu đồng dao Nhật “chỉ có cái gối mới có thể biết nước mắt người ta được”.
            Những lúc ôm gối mà đau đớn một mình như thế, các cô hay gẩy đàn samishen vì trong khoa giáo dục của các cô nhận được, món âm nhạc là một món cần thiết nhất, cho nên đã nói đến geisha là người ta nghĩ đến đờn samishen. Ngoài những món ấy ra, người geisha lại còn phải học cả những lối uốn éo ru lòng người, nói tóm lại là những cách “làm ái tình” như ta học một cuốn mẹo về giác quan. Những cô này càng khéo bao nhiêu càng giỏi bao nhiêu, càng kiếm ra tiền bao nhiêu thì càng được chủ chiều chuộng bấy nhiêu, sắm sửa cho nhiều thứ và rút ngắn cho cái thời kỳ trong hợp đồng ví dụ ký sáu năm thì rút xuống chỉ còn ba, ký 25 năm rút xuống mười tám năm hay kém thế nữa…
            Những nhà Ochaya hay phòng trà của Phù tang Tam đảo dựa vào bọn geisha mà sống rất nhiều. Họ bán cái vui, cái cười của bọn người kia cho khách du và thỉnh thoảng những nhà lịch sự vẫn cho đón bọn người này về gẩy đàn và hát vào bất cứ giờ nào cũng được; - cũng như ở Huế, ta có thể mời các cô ca về để ca lý và gẩy đàn tranh để quên sầu những lúc đêm thanh và giá cả bọn geisha thì cũng y như bọn ca lý Huế, nghĩa là tuỳ theo thứ bực, tuỳ theo danh tiếng của từng người một, chứ giá cả không nhất định, và một phần nữa cũng tuỳ theo lối múa của chủ nhà bảo múa. Trên kia đã nói đến lối múa Matsu Odori, nhưng từ cuối thế kỷ thứ XIX thì bọn geisha thường múa khúc “Múa anh đào” rất được hoàn nghênh ở Đông Kinh, chia ra như sau này:
Miyako Odori, múa ở Kyoto từ 1 đến 30 tháng Tư;
Naniwa Odori, từ 1 đến 24 tháng Tư;
Azuma Odori, múa ở Tokyo từ 1 đến 20 tháng Tư.
            Cũng như ở nước ta hãy còn tục mê tín, bọn geishas đeo vàng dát ngọc cũng tin ở thần linh nhiều lắm, nhưng tin nhất có chăng là vị Miêu thần vậy. Bất cứ nhà geisha nào cũng có một con mèo bằng sứ hay bằng sành, người ta hương hoa cúng lễ cẩn thận lắm, hoặc nếu không thế thì có một con cáo, tức là thần Inari mũi bị xẻo.
Irène Bechar có một lần đã hỏi một người geisha rằng:
            - Có thật các cô tin rằng có Trời không?
            - Có, chúng tôi tin có Trời. Nhưng chúng tôi không tin rằng Trời là con cáo, tuy vậy, chúng tôi vẫn cứ phải thờ cáo bởi chúng tôi nghĩ rằng cái giống cáo nó chạy nhanh, vậy tất sẽ mang những lời cầu khẩn của chúng tôi lên Trời mau hơn…
            Vào khoảng đầu thế kỷ XX, nghề geisha ở Phù tang Tam đảo bành trướng một cách dữ dội; riêng ở Đông Kinh đã có tới 100.000 geishas rồi. Những cô gái này, theo sự tiến bộ do văn minh nước ngoài đem lại dần dần nhãng bỏ hết cả những bài múa hát của đất nước đi mà xông cả ra tập nhảy đầm. Những nhà ochaya vì vậy biến thành cả ra tiệm nhảy, phong trào nhảy có lẽ cũng dữ dội như ở nước ta độ nào, có lẽ lại dữ dội hơn thế nữa… Người ta thuật chuyện rằng vào hồi ấy có nhiều cô geisha mê nhảy quá đến nỗi cứ nghe thấy tiếng kèn là bắt trái bốn cái chiêu tatami ra nhẩy đại, đến nỗi sau chính phủ Nhật thấy thế, không thể chịu được, - vả lại thấy nhiều thanh niên tự tử quá, - phải hạ lịnh đóng cửa tất cả các nhà geisha lại và xóm geisha ở Nhật, Yoshiwara, - một đô thành có mười vạn geishas - bị đốt không để một di tích gì lại hết.
Lịnh này ký từ năm 1936 đến năm 1938 thì thi hành: năm ấy cũng là năm mà thủ tướng Saito (Ý Đằng) Nhật bị người ta ám sát.
            Đến nay, thì bọn geisha Nhật không còn nữa, - hoặc có còn thì cũng là chỉ để ca hát hay nhảy múa những bản đàn, bản múa của riêng đất nước mà thôi. Những bậc phụ huynh túng đói hay những gia đình thất thế phải bán con, bán em, bán vợ đi mỗi ngày vì vậy cũng đỡ dần; geisha, một tinh hoa của Nhật Bản, tuy có kém sáng đi đôi chút, nhưng người Nhật cũng không lấy thế làm buồn bởi vì chánh phủ Nhật đã kiếm công ăn việc làm khác cho bọn người giải nghệ này và làm người đàn bà Nhật thành những phần tử có ích cho nước hơn, để đối phó với ngọn sóng thực tế hiện đương tràn lan trên thế giới.
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 39 (1/12/1940)

Lại Nguyên Ân. Vũ Bằng: Các tác phẩm mới tìm thấy

Nghệ thuật hát bội ở Phù Tang Tam Đảo - Vũ Bằng

 Nghệ thuật hát bội ở Phù Tang Tam Đảo
Vũ Bằng

            LTS. − Như độc giả đã biết, hai ngày 17 và 18 Novembre vừa rồi ban hát Umejima Gekidan của Nhật đã diễn hai buổi đặc biệt tại Nhà hát Tây Hanoi để trưng tài nghệ ca kịch của Phù Tang tam đảo nhưng mục đích của ban hát thì là để tiêu khiển cho quân lính những lúc xa nhà xa cửa. Theo như lời viên bàu gánh đã nói trước khi khai diễn thì cuộc vui này không định trước nên gánh Umejima Gekidan chỉ có tất cả mười bốn người thôi. Mười bốn vai nghệ sĩ này lãnh cái nhiệm vụ an ủi những quân lính ở Tầu và Đông Dương này, đi không có đồ đạc, không có người theo sau, không có người để trang điểm cho tài tử và không có cả nhà dàn cảnh nữa.
Viên bàu gánh có nói rằng: “Buổi diễn hôm nay bình dị quá, xềnh xoàng quá. Sự thực, muốn hiểu thấu cái nghệ thuật hát bội của Nhật Bản, thì người ta cần phải có một cái rạp hát ở Đông Kinh, có một sân khấu thực rộng mà ở trên đó có thể là chỗ hoạt động cho 130 hay 150 tài tử và những người phụ việc”.
            Nhân hai buổi diễn đó, phái bộ Nhật chỉ mời các quan chức Pháp và mấy tờ báo hàng ngày ở đây đến dự, nên người ngoài không được xem tài nghệ của tài tử Nhật ra thế nào. Vậy cho nên chúng tôi lúc nào cũng muốn là một người bạn nhanh nhẹn và giúp ích cho bạn đọc, chúng tôi lấy làm vui mừng mà thuật rõ lại hai buổi hát đó lên đây và luôn thể chúng tôi lại tìm hết cả các tài liệu về nghề hát bội của người Nhật đem viết ra đây để các bạn cùng xem và một khi xem xong rồi, các bạn tất phải lấy làm kinh ngạc cho cái nghề hát bội của người Nhật và ta sẽ nghiệm thấy câu nói của viên bàu ban Umejima Gekidan nói trên kia quả là đúng sự thực và buổi hát ngày 17 và 18, mà mọi người cực lực hoan nghênh và coi là một sự lạ chưa từng thấy đó, mới chỉ là một buổi đóng kịch để vui chơi thôi chứ chưa phải là thực vậy. − T. B. C. N. [1]

            Hai hôm 17 và 18 Novembre vừa rồi, những người nào được ban ca kịch Umejima Gekidan mời đến xem diễn ba vở tuồng Nhật ở nhà hát Tây tất đều nhận thấy như tôi rằng cái nghệ thuật hát bội của người Nhật đã lên tới một độ rất cao, chẳng kém gì Âu Mỹ.
            Cao về nghệ thuật, nghề hát bội ấy lại cao cả về tinh thần nữa, mà chỗ ấy mới là chỗ chính. Kẻ viết bài này đã từng được đọc ít nhiều hài kịch và thảm kịch của Nhật rồi: hầu hết các vở kịch của họ đều có một cái tinh thần đặc biệt Á đông; người Nhật không có cái lối biểu dương “nghệ thuật vì nghệ thuật”, nhưng nghệ thuật, ở phạm vi kịch hát của họ, phải chủ trương một cái gì, phải giúp ích cho người đi xem về phương diện gì, cho nên ở vở kịch nào của họ cũng có một cái then chốt: hoặc ca tụng lòng can đảm, hoặc chế riễu những anh tham tiền bỏ nghĩa, v.v… Cũng như cái lối tuồng cổ và chèo cổ của nước ta, thể nào cũng phải biểu dương hay ca tụng bốn cái đức này: trung, hiếu, tiết, nghĩa, và mạt sát những kẻ không giữ được trọn bốn cái trụ của nền luân lý đó.
            Nghề hát bội của Nhật vì vậy không thể coi như là một trò giải trí, nhưng nhà hát Nhật Bản thực quả là một cái trường học hoạt động, mỗi ngày một đi tới chỗ hoàn toàn.
            Muốn rõ lịch sử và nghệ thuật hát bội của người Nhật, ta phải quay lại thế kỷ thứ chín: Hồi ấy, ở dưới triều Thần Vũ thiên hoàng, tỉnh thành Yết-ma-tô bị động đất ở gần phía Nã-la (chỗ ấy hiện nay vẫn còn là một chỗ danh thắng lưu truyền tiếng tăm lại đời đời vì những thành quách và miếu đài lộng lẫy) núi lửa phun khói và giết hại không biết bao nhiêu người mà kể.
Muốn yên lòng các đấng thần minh giận dữ đã sát hại sinh linh hồi ấy, những vị hoà thượng có tiếng ở trong nước bèn nghĩ ra một cách là bày ra một cái đàn để múa hát ở trên bãi cỏ, ngay chỗ xảy ra nạn động đất quỷ khốc thần kinh kia, và cầu được ước thấy, vừa cúng tế múa hát được vài hôm thì ngọn lửa tắt hẳn và nạn động đất cũng thôi hẳn, không hoành hành nữa.
            Theo như sự tích truyền kỳ thì hát bội Nhật Bản bắt đầu từ đó. Hiện nay, ở nhiều nhà hát của Phù Tang tam đảo, trước khi chơi một tích hát gì người ta vẫn còn cho biểu diễn lối múa đó, tục gọi là sambasho để kỷ niệm cái kỳ tích ở Nã-la và thường thường người đứng ra biểu diễn lối múa đó vẫn ăn mặc lối hoà thượng ngày xưa vậy.
            Dân gian từ đó bắt đầu làm quen với những cách biểu diễn có tính cách tôn giáo đó. Những cách biểu diễn đó, khởi thuỷ rất bình dị; phái thần đạo về sau dựa vào đó mà làm nên những hài kịch câm và hoạt động. Trong những kịch câm đó, vở có tiếng nhất là vở Tama-Tori, trong đó người ta có nói đến một người đàn bà thành tiên, lúc ra trò, tay rung lia lịa một thứ nhạc khí tiếng kêu sang sảng, tay thì cầm một quả tròn bằng pha lê quý giá biểu hiệu sự thực và sự trong sạch ở đời, không ai làm mờ đi được, dù là quỷ sứ.
            Cứ xem như thế thì ta biết rằng cái khởi nguyên của nghề hát bội Nhật cũng giống những khôi nguyên của nghề hát bội Pháp. Ở Pháp vào thời trung cổ người ta cũng diễn những trò huyền ảo và phô trương những chuyện huyền bí ở nhà thờ, sau dần dần lan ra đến những biệt thự của các vì quân chủ, quốc vương, sau mãi mới đến những chỗ công cộng để cho dân chúng đến xem cho thích mắt. Nghề hát bội của Nhật và của Pháp có nhiều chỗ giống nhau và nghề hát bội của hai dân tộc ấy đã trải nhiều chặng để đến sự tiến bộ ngày nay vậy.
            Những tuồng rối Joruri và Ningyo-Tsukai bắt đầu đặt ra tự thế kỷ thứ XVIII.
            Hiện giờ, ở nước Nhật, một cái cửa rạp hát bao giờ cũng treo đèn kết hoa và dán nhiều tranh ảnh thực rực rỡ tả những đoạn hay nhất ở trong vở kịch mà người ta đem ra diễn.
            Cửa rạp có chấn song bằng gỗ sơn đen và ngăn ra từng ô để riêng cho những người bán vé và soát vé. Có một cái buồng để chứa áo khoác ngoài, ô, mũ và những đôi guốc một quai. Chính nhà hát thì phần nhiều chỉ có hai từng: từng dưới nhà và từng gác.
            Trong một cái ngăn ở trước sân khấu, một người đàn ông, mà người Nhật gọi là guidayu ngồi xếp bằng tròn và đánh đàn tam shamisen. Người ấy lúc màn bắt đầu mở, đứng ra nói bằng một giọng buồn thảm và nhịp nhàng về toát yếu vở kịch đem ra diễn và đôi khi vui miệng lại tả cả những tình cảm, những bộ điệu mà những tài tử sắp đem chơi trên sân khấu nữa.
            Dưới người “giáo đầu” đó, có một người amatetaké cầm hai cái sênh bằng gỗ đập vào sàn, những khi nào có một vai rất sầu khổ ra trò, nói lên những lời rất bi đát; người amatetaké đánh nhịp rất mạnh và làm đinh tai người đi xem.
            Trên trần nhà hát, có kết hoa và chăng những vòng xúc xích bằng vải đủ các màu, cùng những tấm lụa sặc sỡ có đề chữ viết thoáy: đó là những cái áo của những tài tử có danh tiếng. Cho nên, ở Nhật, mỗi khi ai nói tới một kịch sĩ lành nghề nào, họ thường bảo: “Kép hát ấy đã đóng đến 36 cảnh”.
            Sự giữ trật tự ở trong nhà hát không phiền phức như ở xứ ta: chỉ cần một người cảnh sát thôi cũng trông cả một rạp hát được; xem thế thì ta đủ biết những người đi xem hát ở Nhật Bản biết trọng trật tự như thế nào.
            Từng dưới thì làm ra không phải để ngồi mà cũng không phải để đứng: khán giả ngồi xổm ở trên chiếu và như thế họ không lấy gì làm mỏi mệt bởi vì cái lối ngồi xổm ấy dân Nhật quen đi rồi.
            Rạp hát chia ra làm từng ô vuông cao độ ba mươi phân một, và phân ra thành từng ngăn đều nhau như thể những cái “loges” ở rạp hát ta. Những ngăn ấy bề ngang khá rộng để cho người ta có thể đi lại tự do được; những người bán chương trình, bán quà bánh và nước trà đi lách qua chỗ khán giả để vào bán hàng, có khi họ lại dọn cả cơm để bán cho khách nữa, bởi vì ở Nhật có lắm khi người ta diễn kịch từ sáng sớm cho đến đêm khuya mới tan. Ở trong mỗi cái ngăn như thế, có một cái que lửa, một cái bùi nhùi, − hibashi − để cho người đi xem châm thuốc, và muốn nhổ, người nào người nấy đều có sẵn một cái ống phóng làm bằng một cái ống tre.
            Ở chung quanh người dàn cảnh, có hai cái “phông” chính: một cái vẽ cảnh biển, ánh sáng lung linh và một cái vẽ cảnh một phòng trà xinh xắn như một thứ đồ chơi vậy.
            Ngoài những cái lối đi có giải thảm mà tôi vừa nói ở trên kia, rạp hát Nhật Bản lại có hai lối đi khác rộng hơn ở bên phải và ở bên trái và cao bằng sân khấu. Những tài tử sẽ do hai lối đi này mà vào diễn kịch: như thế, lối trưng diễn sẽ có vẻ tự nhiên hơn mà những tài tử không cứ là phải đi ra đi vào do hai cái lối từ xưa đến nay vẫn có là hai lối đi trong sân khấu. Một trong hai lối đi nói trên kia khá rộng, có thể cho xe và thuyền vào cũng vừa. Khi có một vở kịch nào cần có nhiều “phông” nhiều cảnh thì rạp hát để hai cái phông ráp vào nhau, trên một tấm biển quay được. Lúc nào cần đến, một bọn tài tử đi vòng theo lối cái biển quay và một bọn tài tử khác sẽ lộ ra ở trước một phong cảnh khác.
            Trên sân khấu Nhật, đứng riêng biệt hẳn bọn tài tử, lại còn một bọn người mặc quần thâm áo thâm tên là Kuromango: bọn này đi lại, chạy nhảy, và thắp đèn, dụi nến. Họ ra trò lúc nào có những chuyện vui đặc biệt hay để giúp đỡ những tài tử khi có chuyện sầu khổ quá, hoặc đưa cho tài tử một chén trà, một cái khăn tay chẳng hạn. Trong một “sen” tả một võ sĩ sắp giết người tình, một tên đứng quạt và một tên giơ một cây nến dài lên ngang mặt tức giận và sầu thảm của người đóng vai võ sĩ.
            Những kịch Nhật phần nhiều là soạn theo lịch sử và sự tích thần kỳ. Trong những gánh hát rong thì những tuồng hay kịch đem diễn không dài lắm nhưng vì nó gần sự thực về mặt phong tục hơn nên vẫn được dân gian chú ý hơn. Ở đó, người ta thường diễn những bản hài kịch và những bản tục dao kịch có tính cách thời sự. Phần nhiều người ta hay đem diễn những cuộc đời hàng ngày và những cái lố bịch do cuộc văn minh vật chất gây nên và thường được dân chúng hoan nghênh lắm.
            Dưới đây là một thí dụ mà chúng tôi lượm được trong một vở kịch thường diễn ở một rạp hát rong quanh năm ngày tháng thường đóng ở Đông Kinh vậy:
            “Một người đàn ông kia goá vợ. Có một nhà sư đến lên đàn và tụng kinh để cho linh hồn người vợ được siêu sinh tĩnh độ. Ông sư đó nói chuyện với người đàn ông goá vợ kia, người goá vợ hỏi phải làm những gì và tiêu phí hết bao nhiêu tiền. Cãi lộn, nói đùa, trào phúng, người chồng nọ khôi hài. Kịch đến đoạn hết: người chồng nọ thấy phải tiêu nhiều tiền quá, đâm hoảng và lấy làm tiếc sao vợ mình lại chết đi như thế để cho mình phải khổ thân như vậy”.
            Nói đến nghệ thuật hát bội của người Nhật, ta không thể không nói đến bọn kép võ và bọn ca múa được. Bọn kép võ được dân chúng Nhật quý lắm; quý đến nỗi họ được mang binh khí là những thứ mà chỉ phái võ sĩ thực, bọn quý phái được mang theo trong mình mà thôi. Họ làm nghề này, đời nọ nối đời kia và có những cách luyện tập riêng của phái sumo, một phái đứng riêng biệt ở trong xã hội và có một sức khoẻ không có ai bì kịp. Bọn kép võ này, hay nói nôm là bọn đô vật này, chia ra làm ba hạng: hạng tập sự (Komosobi), bọn “thày” (Maigashira) và bọn “chúa” (Ozéki). Lên được đến chức thứ ba này, là đến tột cùng của nghệ thuật vậy.
            Họ không có một rạp hát riêng cho họ. Hết gánh này sang gánh khác, họ mỗi khi đi diễn ở đâu thì làm cho dư luận ở trong nước xôn xao lên: vài ngày trước hôm biểu diễn, có một người đứng ở trên một cái tháp đánh trống dữ dội và rao lên ầm ầm. Phố xá có treo cờ kết hoa rộn rịp, không thể tả hết sự tưng bừng náo nhiệt.
            Ở giữa một bãi đất rộng, người ta dựng lên một võ đài, chung quanh có những bục gỗ để cho người ngồi xem: những người ngồi xem đó đánh cá với nhau những ai thua ai được, y như đánh cá ngựa vậy.
            Đứng ở giữa bục là viên trọng tài, viên trọng tài này theo rõi cuộc đấu từng tí một như ở trong một cuộc đấu gươm. Cái công việc viên trọng tài xem thế không phải là một công việc dễ dãi như ta tưởng đâu, nhưng là một công việc cha truyền con nối vì người đứng trọng tài cũng phải giỏi võ và biết hết các môn quyền thuật.
            Những viên trọng tài có tiếng nhất ở Nhật là những người ở dòng họ Kimura, một dòng họ lâu đời nhất, bây giờ người ta không còn biết ông thuỷ tổ là ai cả.
            Còn về ca múa. Nội cái gì có tính cách ca múa, ở Nhật, người ta cũng đều hoan nghênh cả. Ở Đông Kinh, chánh phủ Nhật có xuất tiền ra lập một trường dạy ca múa giống như Nhạc hội ở Anh và ở Pháp.
            Nội tất cả những lối múa, cái lối làm cho người ta chú ý nhất là lối Dai-Kagura hay là lối múa “Cao Ly Mãnh hổ”, nó nhắc người ta nhớ đến sự tích bà nữ vương Zingo-Kogo đã chiếm được đất Cao Ly.
            Một cái thí dụ hay nhất về nghệ thuật nhảy múa của người Nhật là bản Matsu-Odori hay là “Khiêu vũ cây tùng”, người đàn bà ra múa làm những bộ điệu mềm dẻo như là cành tùng cành bách là một thứ cây quân tử quanh năm xanh tốt. Trong lối múa này, cây quạt là một vật quan hệ vào bực nhất, hơn cả các lối múa khác. Phàm lối múa nào của người Nhật cũng cần dùng đến quạt. Người Nhật cầm quạt múa dẻo lắm và mỗi một lối múa thì cây quạt múa lên lại có một tính cách riêng: mỗi một bước, mỗi một cái uốn éo người đều là để trả lời một tư tưởng, một cảnh ngộ. Người đi xem diễn kịch tưởng như mình được đọc một bài thơ mà bao nhiêu nhân vật ở trong đó đương sống ở trong cõi cao cả nhất của nghệ thuật tư tưởng.
            Người Nhật Bản là một dân sản xuất ra được nhiều nghệ sĩ có biệt tài và những người nhảy múa có tiếng lẫy lừng trong thế giới. Những văn sĩ, trước tác gia cũng đáng được người ta cổ võ hoan nghênh như những người ca múa và những tài tử biểu diễn ở trên sân khấu vậy.[2]
VŨ BẰNG
Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, s. 38 (24/11/1940)

[1] Đây là lời toà soạn Trung Bắc chủ nhật, hẳn cũng do Vũ Bằng viết.
[2] TBCN đăng bài này kèm ảnh của Võ An Ninh, chụp cảnh vở diễn nói tới ở Lời toà soạn. Ngoài ra còn có một ảnh nhan đề Đánh vật sumo của Nhật: Hai võ sĩ to lớn Nhật đang trổ tài trước trăm ngàn người xem.
Lại Nguyên Ân. Vũ Bằng: Các tác phẩm mới tìm thấy